LÊ DUY NAM

Đạo là gì? Tình là gì?
Bài viết

VỀ CÁI TÊN CỦA BA TRIỀU ĐẠI HẠ – THƯƠNG – CHU

Một điều khá thú vị khi tìm hiểu về các triều đại Tiên Tần ở Trung Quốc, đó là tên triều đại của họ đồng thời cũng đại diện cho mô hình phát triển.

– “Hạ” có cách viết tương ứng với từ “hạ” có nghĩa là mùa hè. Trong chữ “Hạ” có chữ “Bách” với ý nghĩa “đứng đầu thiên hạ, anh cả”. Nhà Hạ là triều đại nổi tiếng với những phát minh vĩ đại như đắp đê ngăn lũ, định ra âm nhạc, ngôn ngữ… và nghệ thuật nấu rượu. Văn hóa của nhà Hạ chính là nền tảng của văn minh Trung Hoa, bởi văn minh Trung Hoa xuất phát từ người Hoa Hạ. Nhà Hạ có chính sách “phú nạp”, tức là những nước chư hầu phải cống nạp cho triều đình dựa theo quy định về tước phong và số đất sở hữu. Nhà Hạ còn giữ được uy tín về khả năng cai trị với chư hầu thì còn có được sự tuân phục của chư hầu. Về căn bản, bộ tộc Hạ lúc bấy giờ do sớm có các phát minh và thống nhất về chữ viết, nên nhanh chóng mạnh hơn các tộc khác và các tộc phải cống nạp để được hưởng một phần của nền văn minh ấy. Tuy nhiên, trong ba đời Hạ – Thương – Chu, nhà Hạ có hệ thống quân sự yếu kém nhất thế nên không duy trì được nền thống trị lâu dài.

– “Thương” có cùng nghĩa với “thương” trong thương mại, liên quan đến buôn bán. Nghĩa cổ hơn của từ “Thương” là cái kho dùng để tích trữ tài sản. Đến đời vua Bàn Canh nhà Thương, triều đại được đổi tên là “Ân” có nghĩa là no đủ, thịnh vượng. Tộc Thương lớn mạnh được nhờ chinh chiến và thương mại. Khác với nhà Hạ, nhà Thương tỏ rõ uy thế bằng việc bảo kê giao thương giữa các nước chư hầu. Một điểm thú vị đó là từ thời thủ lĩnh thứ 9 Tử Giáp Vi, các thủ lĩnh của Thương tộc đều lấy các Thiên Can làm tên hiệu cho mình, cho thấy địa vị của bói toán trong xã hội triều Thương.

– “Chu” có nghĩa là “vòng quanh”. Chữ này được ghép bởi chữ Thổ ở trên bộ Khẩu. Bên ngoài là chữ Quynh ⺆ nghĩa là đất ngoài đồng. Dựa trên triện văn và kim văn thì thấy rằng chữ Chu gắn liền với ruộng đồng và canh tác nông nghiệp. Vào cuối triều Thương, khi chính sách cai trị của nhà Thương hà khắc, nhà Chu đã hỗ trợ các chư hầu của nhà Thương bằng cách hướng dẫn họ là nông nghiệp và cách tổ chức xã hội. Do đó, nhà Chu có được sự ủng hộ của các nước chư hầu. Sau khi lật đổ nhà Thương thành công, nhà Chu đã sử dụng thiết chế tương đồng với mô hình Liên hiệp quốc để cai trị các chư hầu. Nhà Chu phân chia đất đai, cho phép tự trị nhưng yêu cầu các chư hầu phải tham gia hội đồng trong triều đình. Nhà Chu chịu trách nhiệm giữ Lễ (Chu Công đặt ra, sau này được Khổng Tử nhắc lại) trong toàn thiên hạ, và quan trọng hơn hết là canh giữ ở phía Tây để ngăn cản sự xâm phạm của quân Nhung, Địch xâm nhập vào Trung Nguyên. Đến thời Chu Bình Vương, nhà Chu dời đô từ vùng Thiểm Tây đến Lạc Dương, tức là từ phía Tây vào trung tâm, cho thấy sự yếu thế về quân sự của triều đại này, đánh dấu cho sự đi xuống về chính trị. Từ đó, các nước chư hầu mặc dù vẫn chấp nhận vị thế của nhà Chu nhưng đất của Chu bị co hẹp dần và các chư hầu ngày một lớn mạnh, xưng bá, xưng vương ở thời Xuân Thu – Chiến Quốc.

Từ Hạ – Thương – Chu cho thấy xu hướng phát triển của xã hội Trung Hoa thời sơ cổ, đi từ thời đại của sáng tạo, tới thời đại của giao thương và đến thời đại của thiết chế xã hội được gọi là “Lễ”. Cho đến nay, thiết chế xã hội cổ sơ này vẫn còn ảnh hưởng đến Việt Nam ta và ăn sâu vào trong nếp nghĩ. Một điều đáng tiếc, thứ chúng ta tiếp thu của văn hóa Trung Hoa lại là “Lễ” bởi có sự tương đồng trong lối sống nông nghiệp, trong khi ấy tinh thần sáng tạo có ở nhà Hạ dường như lại ít người chú ý.

Lê Duy Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *